Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Đề bài : Bình luận lời khuyên của Huấn Cao khi cho chữ viên quản ngục:

Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một tấm lụa trắng với những nét chữ vuông vắn, tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm từ chậu mực bốc lên không?… Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ tới chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.

(Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, Ngữ văn 11)

Từ đó hãy nêu lên ý nghĩa sâu sắc của việc Huấn Cao cho chữ viên quản ngục. ( Ngữ văn 11 )

Bài làm

Tôi muốn gọi phút giây ấy là phút giây xanh, lời khuyên ấy là tấm lòng xanh mãi, lời khuyên của tử tù sau khi cho chữ viên quản ngục trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà nơi buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Bởi vậy làm sao không xúc động, không trân trọng những lời tâm huyết như thế này:

Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một tấm lụa trắng với những nét chữ vuông vắn, tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Thoi mực thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm từ chậu mực bốc lên không?… Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ tới chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.

(Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân)

Không gian, thời gian như ngừng lại để cho lời người tử tù đĩnh đạc cất lên và hóa thành bất tử. Đó không chỉ là lời khuyên mà nhịp đập bồi hồi của trái tim Huấn Cao – người nghệ sĩ chân chính với quản ngục – kẻ tri âm có tấm lòng biệt nhỡn liên tài, một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ.

Sang sảng, đĩnh đạc mà ấm áp ân tình, Huấn Cao khuyên quản ngục hãy thay đổi chỗ ở đi, hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ tới chuyện chơi chữ. Bởi đây không phải là nơi để treo một tấm lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn, tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người. Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi. Lời khuyên hay là lời khẳng định đĩnh đạc của một chân lý: cái đẹp không thể chung sống với cái xấu xa, thấp hèn, con người chỉ có thể thưởng thức được cái đẹp nếu như giữ được bản chất trong sáng. Lời khuyên ấy chỉ có thể phát ngôn từ một con người hết lòng trân trọng cuộc đời. Lời dặn dò cuối cùng là lời trăn trối của một đời hào kiệt. Nó không chỉ có ý nghĩa đối với viên quan coi ngục, với thầy thơ lại nó còn có ý nghĩa với muôn người. Bởi đó là những quan niệm về cuộc đời, về nghệ thuật mà Nguyễn Tuân gửi gắm qua Huấn Cao, quan niệm thống nhất giữa tâm và tài, giữa cái đẹp và cái thiện mà ông gọi là thiên lương (Nguyễn Đăng Mạnh).

Ai đó đã từng nói nghệ thuật không chỉ cho người ta nhận thức thấy thẩm mỹ mà còn giúp con người ta cải tạo cuộc sống theo yêu cầu thẩm mỹ phải chăng là đúng trong trường hợp này? Tiếng nói của cái đẹp đã hướng dẫn con người, đã thức tỉnh con người. Không phải là phép thần thông của tiên, của Phật đưa cái thiện vượt bao gian nan để đến bờ hạnh phúc, vẹn nguyên cái đẹp trong trắng mà đây là điều kỳ diệu trong đời thực. Chẳng bạo lực xích xiềng, chẳng đao to búa lớn mà rất gần gũi, thân thương, cái đẹp đã chinh phục lòng người bằng tự bản chất của nó:

Thoi mực thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm từ chậu mực bốc lên không?…

Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Ta có lầm chăng khi lắng nghe lời tâm tình sâu lắng, thiết tha ấy từ một kẻ cổ đeo gông, chân vướng xiềng chỉ ngày mai là bị giải tới nơi pháp trường. Những lời nói ấy cất lên từ trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián. Hiện thực khắc nghiệt ấy, những tưởng con người tàn héo đi mà sao thốt ra những tiếng lòng tươi xanh như thế.

Người bình thường đâu dễ có được cảm xúc như thế, đây lại là một tử tù. Vâng, đúng như vậy! Nhưng đây là kẻ tử tù mang trái tim nghệ sĩ! Ngục tối, cái chết làm sao có thể mang run sợ đến cho Huấn Cao khi ông đang sống với những phút giây thật nhất của lòng mình! Người nghệ sĩ tài hoa say mê mùi thơm của chậu mực, say đến mê mẩn. Như không biết đến ngày mai… Tưởng như trái tim ông đang rạo rực, bồi hồi. Lời nói như trầm lắng hơn, thiết tha hơn. Thiết tha như hơi thở dồn dập…

Không phải ngẫu nhiên những tiếng lòng ấy lại xen kẽ giữa lời khuyên gan ruột của Huấn Cao với quản ngục. Có lẽ chính Huấn Cao cũng không biết mình đang nói gì bởi đó là tâm thức. Chỉ Nguyễn Tuân biết điều ấy. Những khoảng trống giữa lời nói là tiếng gọi lòng đồng cảm, là nơi hò hẹn của tấm lòng hướng về cái đẹp, cái thiên lương. Cùng nhau thưởng thức mùi thơm của chậu mực, họ cùng sống trong những giây phút trong sáng nhất… Ngắn ngủi nhưng không vô nghĩa, không lạc lõng. Phảng phất mà quyến rũ không ngờ – hương thơm ấy đã chạm đến nơi sâu nhất của lòng người làm rung lên những âm thanh tế nhị. Đó chính là sức mạnh của nghệ thuật chân chính. Làm nên sức chinh phục ấy là sự đồng hóa của cái tài, cái tâm nghệ sĩ. Nó đã sinh ra một sự thật đầy tính lãng mạn – sự thật về những tác phẩm hướng về con người, chinh phục trái tim khối óc con người bằng ánh sáng kì diệu hướng con người tới thiên lương, gìn giữ bản chất trong sáng nguyên sơ của con người, bản chất lương thiện, bản chất nghệ sĩ. Từ Truyện Kiều của Nguyễn Du tới Chí Phèo của Nam Cao, văn học dân tộc đã không rời xa khỏi chức năng cao cả ấy.

Trở lại với lời khuyên của Huấn Cao, ta sẽ cảm nhận sâu sắc hơn sự chinh phục diệu kì của cái đẹp. Là suy tư trải nghiệm mà cũng là gan ruột, trái tim, lời khuyên giống như ngọn lửa châm vào cành khô, làm bùng cháy lên khát vọng về một sự thay đổi, thay đổi khỏi cái hiện thực trói buộc của cái nghề thất đức, bất lương để trở về quê sống với bản chất lương thiện sẵn có, để được chơi chữ, được sống hết mình với cái đẹp sâu thẳm tâm hồn quản ngục. Và rồi:

Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: Kẻ mê muội này xin bái lĩnh.

Cái cúi đầu của quản ngục là cái cúi đầu khuất phục trước cái tài, cái đẹp, cái thiên lương. Thêm một lần ta được chứng kiến cái cúi đầu làm cho người ta cao quý, lớn lao hơn.

Nhất sinh đê thủ bái hoa mai

(Cả đời chỉ biết cúi đầu trước vẻ đẹp của hoa mai)

(Cao Chu Thần)

Ở đây, vị thế của nhân vật đã hoàn toàn thay đổi. Không phải là quản ngục mà là Huấn Cao, người tử tù hiện lên lồng lộng với lời khuyên sang sảng, đĩnh đạc. Không còn cách ngăn, Huấn Cao, quản ngục và thầy thơ lại đã đỡ nhau đứng dậy thực sự hòa đồng… tỏa sáng cho nhau. Lửa đóm cháy rừng rực. Ba người nhìn bức châm rồi lại nhìn nhau… (Vũ Dương Quỹ). Cái đẹp đã gắn kết con người, đã đặt thiên lương lên trên tù ngục xấu xa, đã làm nên sự chiến thắng của tài hoa, khí phách. Xây dựng được tình huống đó, Nguyễn Tuân đã bộc lộ tư tưởng nghệ thuật tiến bộ của mình. Tư tưởng tiến bộ cộng với tài năng sẵn có khiến những trang văn, trang lòng của nhà văn Cháy lên mà tỏa sáng (Raxun Gamzatốp). Từ Vang bóng một thời tới Người lái đò sông Đà, văn Nguyễn Tuân rất bay bổng lãng mạn nhưng là lãng mạn bắt nguồn từ hiện thực nên mang ý nghĩa tích cực. Nó hướng con người tới cái đẹp, làm lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn, nhắc ta tránh xa cái xấu để luôn giữ thiên lương lành vững. Nó khiến con người gần gũi và gắn bó với nhau hơn trong niềm vui đam mê cái đẹp. Nó làm sáng lên những gì vốn đã trong sáng lung linh. Cho ta cách nhìn nhận đánh giá con người trên cơ sở thống nhất của chân – thiện – mỹ. Những điều thánh thiện ấy thể hiện chính trong thế giới nhân vật Nguyễn Tuân. Mỗi hành động của nhân vật đều xuất phát từ cái tâm đẹp đẽ của nhà văn, lấp lánh ánh sáng nhân văn làm rung động lòng người. Hành động Huấn Cao cho chữ quản ngục đã mang thứ ánh sáng huyền diệu đó.

Huấn Cao có tài viết chữ rất đẹp, nhưng tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ ông ít chịu cho chữ, không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ. Nhưng khi hiểu rõ tấm lòng chân thành của viên quản ngục, ông đã cảm động, nói: Thiếu chút nữa ta phụ một tấm lòng trong thiên hạ. Và ông nhận lời cho chữ. Như vậy uy vũ xích xiềng không làm Huấn Cao sợ mà tấm lòng trong thiên hạ đã khiến ông xúc động. Những tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục và thầy thơ lại đã có sức mạnh để Huấn Cao chấp nhận họ như những kẻ tri kỉ, tri âm (Vũ Dương Quỹ). Nghĩa là ông đã coi họ như người bạn thân thiết của mình. Không dễ dàng có được tình cảm đó, nhất là giữa những người khác nhau hoàn toàn, thậm chí đối lập về chỗ đứng trong xã hội. Huấn Cao tôn trọng họ, bởi ông hiểu bản chất tốt đẹp của họ, những kẻ tôi tớ nhưng tâm hồn không tôi tớ. Nhẹ nhàng mà sâu sắc, Nguyễn Tuân cho ta một chân lý để đánh giá con người. Thân phận không phải là của bản chất (Văn Tâm). Quan niệm nhân sinh ấy mang chiều sâu trí tuệ và tình cảm giúp ta sống nhân ái hơn, và những tác phẩm văn học thể hiện nội dung ấy có giá trị chân chính, làm xúc động lòng người. Phải chăng đó cũng là điểm gặp gỡ của những nhà văn, nhà tư tưởng vĩ đại như V. Huy-gô (Những người khốn khổ), Đốttôiépxki (Tội ác và trừng phạt), Nam Cao (Chí Phèo) Nguyễn Tuân với Chữ người tử tù? Huấn Cao cho chữ để đáp lại một tấm lòng, để thức tỉnh lương tâm, góp phần định hướng nhân cách, bảo vệ thiên lương cho một người vì hoàn cảnh trớ trêu mà bị đày ải giữa một đống cặn bã. Lời nói mà cũng là hành động, mục đích cao cả tự bản thân nó đã là cái đẹp. Cái đẹp là nơi gặp gỡ những tấm lòng tri kỉ, cái đẹp hướng con người tới cái thiên lương – hành động. Huấn Cao cho chữ quản ngục đã nhân mãi nhân mãi cái đẹp – tác phẩm chói ngời vẻ đẹp thẩm mĩ. Nó làm nên sức mạnh diệu kì đổi thay vị thế con người, thể hiện sâu sắc trong cảnh Huấn Cao cho chữ.

Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng xích đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván. Người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng ánh. Và cái thầy thơ lại gầy gò thì run run bưng chậu mực.

Khoan hãy nói đến tấn bi kịch, đến chất tạo hình và điện ảnh trong đoạn văn giàu tính nghệ thuật này. Ở đây cả ba nhân vật cũng thăng hoa thành hình tượng kì vĩ phi thường, xây dựng những cốt cách phi phàm, những con người khổng lồ, nhưng có khi phải ngụp lặn dưới đáy xã hội, đó cũng là một đặc trưng nổi bật của bút pháp lãng mạn chủ nghĩa nói chung (Văn Tâm). Nhưng đâu chỉ là đơn thuần là một thủ pháp, đó là cả một tấm lòng của Nguyễn Tuân. Yêu cái đẹp, tác giả đã bất tử hóa giây phút sinh thành của cái đẹp, bất tử hóa giây phút thiêng liêng, giây phút chuyển giao nhân cách, nhân cách tự do, chuyển giao cái đẹp. Người tử tù đang tô đậm nét chữ, đang dồn cả tâm hồn vào những dòng chữ cuối cùng của một đời người, lần cuối cùng khẳng định tài hoa khí phách của mình cho những người tri âm, tri kỉ. Quản ngục vì xót xa trước tài năng bị hủy diệt mà xin chữ Huấn Cao và ông đã đạt được sở nguyện. Hạnh phúc được chiêm ngưỡng nghệ thuật thư pháp mà sao nghe lòng cứ rưng rưng. Xây dựng viên quản ngục đã hết lòng trân trọng giữ gìn thái độ tôn kính rất mực thiên lương và thư pháp kiệt xuất của người tù. Nguyễn Tuân như đã cất lên khúc vãn ca đối với một mảng văn hóa truyền thống mà đến thời Nguyễn chỉ còn vang bóng (Văn Tâm). Bất tử hóa văn hóa cổ truyền dân tộc, tác giả đã thể hiện nỗi xót xa oán hờn thế cục Tây, Tàu nhố nhăng đã phạm tội với văn hóa Việt. Thì ra, ý nghĩa sâu xa là ở đó. Thể hiện lòng yêu nước thiết tha kín đáo, đoạn văn rất giàu tính dân tộc, đồng thời cũng rất giàu sắc thái thẩm mĩ. Tất cả hài hòa đan xen bằng cái tâm, cái tài Nguyễn Tuân. Lớp lớp ý nghĩa trong từng hành động, đoạn văn như bông hoa ngát hương cứ nở mãi trong lòng người đọc, làm sáng lên những cái gì vốn đã trong sáng lung linh.

Xây dựng hành động cho chữ quản ngục và lời khuyên của Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã thể hiện quan niệm về cuộc sống và những quan điểm nghệ thuật tiến bộ của mình – đó là sự thống nhất giữa cái tâm và cái tài, cái đẹp và cái thiện – cái thiên lương. Thể hiện tâm niệm của mình bằng nghệ thuật bậc thầy về sử dụng ngôn ngữ, khắc họa nhân vật – đó là bằng chứng sống về cái tâm, cái tài của Nguyễn Tuân, mang bản sắc Nguyễn Tuân người ca sĩ của những vẻ đẹp. Nó hướng con người tới một vẻ đẹp thánh thiện với những chân lý nhân sinh cao cả. Ở đây thêm một lần tôi khẳng định Nguyễn Tuân là nhà thơ tài hoa, một nhà văn chân chính với thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ của mình. Cái tâm, cái tài của người nghệ sĩ luôn đặt ra với muôn đời. Cái đẹp luôn là đích hướng tới con người. Và bởi thế, lời khuyên của Huấn Cao sau khi cho chữ quản ngục, tiếng lòng Nguyễn Tuân người ca sĩ của những vẻ đẹp gửi gắm, sẽ mãi còn xanh mãi.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here