Tràng giang của Huy Cận

Đề bài: Cảnh làng quê hiện lên thật đẹp nhưng lại thấm đượm nỗi buồn da diết bâng khuâng trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. Phân tích bài thơ để chứng minh điều đó. ( ngữ văn 11 )

Bài làm

Tôi đã trót yêu cái buồn trong thơ của Hàn Mặc Tử – người thi sĩ tài hoa bạc mệnh. Dường như cái khoảng thời gian ngắn ngủi Tử hiện hữu trên đời này là để yêu. Yêu điên cuồng thế giới… cho dù bệnh tật hành hạ. Nỗi buồn trong thơ Hàn có nhiều cung bậc khác nhau, lúc thê thảm tha thiết, khi chở nặng một chút lòng man mác… nhưng tất cả đều dội lên một lòng khát khao sống tột độ. Có những câu thơ, bài thơ đọc lên ta cảm thấy day dứt, diết da nhưng cũng có những bài thơ nhà thơ truyền cho tôi cảm giác buồn vô cùng tinh tế. Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ như thế với cảnh, với hồn người xứ Huế đẹp, thấm đượm một nỗi buồn da diết, bâng khuâng:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Tràng giang của Huy Cận

Vườn Huế mộng và thơ, đẹp nhưng là vẻ đẹp của một bức tranh nhạy cảm. Cái nắng trinh nguyên của sớm mai nơi thôn Vĩ như rải những vệt sáng lấp lóa trên những cành lá còn ướt đẫm sương đêm. Buổi mai vàng khi ùa lòng mình vào Vĩ Dạ, hòa vào cỏ cây, ngước mắt nhìn lên thẳng là tắp những hàng cau đứng đấy buồng nắng, Nắng hàng cau có lẽ chỉ có thôn Vĩ mới có cái nắng tinh khôi ấy, ta như cảm được hương thơm của nắng tỏa xuống không gian, cái hương rất nhẹ của hoa cau mới nở. Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên, câu thơ có bảy chữ nhưng có đến hai chữ nắng tạo trong ta cái cảm giác về cấp độ của ánh sáng, đầu tiên là nhìn nắng đó là một thứ ánh sáng của sự chủ động, ta định hướng được rất tự nhiên và từ đó vươn lên một góc nhìn tập trung nắng hàng cau để rồi đón nhận một cảm giác tươi mới trinh nguyên nắng mới lên. Sắc nắng, vị nắng trộn hòa vào cảnh vật vừa như vút lên trong cái tầm thanh thoát của hàng cau xứ Huế, lại vừa chợt như ùa xuống, tỏa rộng tràn lên tất cả Vườn ai mướt quá xanh như ngọc. Câu thơ cứ như là buột miệng, như không kìm nổi lòng mình phải reo lên khi bắt gặp cái sắc màu xanh biếc xanh như ngọc ấy. Vườn ai đó chợt sáng bừng lên, làm rạng rỡ cả một khoảng không gian của đất trời, mượt mà và tươi non. Cảnh nơi thôn Vĩ buổi sớm mai ta cứ tưởng như đêm qua cảnh vật được tắm táp bằng một trận mưa rào, cây cối như được rửa trôi, sạch sẽ và vô cùng tinh khôi, chỉ còn những giọt nước rất nhỏ bám vào cành lá chờ đợi từng tia nắng xuyên qua. Có lẽ chỉ cần từ mướt là đủ, song thêm từ xanh sau càng làm tôn thêm, nổi bật thêm cái tươi mát, xum xuê của Vĩ Dạ. Người dân Huế, thường đồng nghĩa hai từ vườn và từ nhà, bởi ở nơi đây mỗi ngôi nhà đều được bao quanh bởi vườn cây. Mỗi nhà là một khoảng khá rộng ngôi nhà nhỏ được đặt ở giữa, xung quanh là cây cối tạo nên một cấu trúc thẩm mỹ rất gắn kết, hài hòa. Đang cái mạch của sự ngỡ ngàng, câu thơ tiếp theo là một sự phát hiện mới, hòa vào trong cái không gian tinh khiết ấy là thấp thoáng dáng nét của con người.

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Câu thơ là sự biểu hiện được thần thái tâm hồn thôn Vĩ. Có sự xuất hiện của con người, thiên nhiên như càng được thổi thêm một luồng sinh khí tạo nên nét đẹp hài hòa trong giá trị tạo hình, một vẻ đẹp kín đáo, dịu dàng, đôn hậu và thanh khiết của con người nơi miệt vườn xứ Huế, nó còn như một lời chào mời tha thiết, nửa như trách móc dỗi hờn:

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Hình như ta cảm thấy có hai nhân vật trữ tình trong bài thơ một người đang trách móc xa xôi sự vô tình của người kia đối với một kỷ niệm đẹp. Còn nhân vật trữ tình thứ hai thì bàng hoàng nuối tiếc, anh bị lời trách cứ lôi kéo: Cảnh đẹp đến nhường ấy sao anh không về chơi. Câu thơ mở đầu bài thơ là một lời mời chào còn hàm chứa cả một nỗi niềm tiếc nuối, day dứt. Có thể thấy những cảnh đẹp của vườn Vĩ Dạ chỉ là một lớp vỏ ngoài của một nỗi lòng đang khắc khoải, rõ ràng bài thơ không chỉ đơn thuần để thể hiện cái tình đối với Huế, mà đối với một bóng hình giai nhân nhà thơ đã từng nặng lòng thương nhớ. Bài thơ được làm ở Quy Nhơn, nên những cảnh Huế chỉ là tưởng tượng. Thi nhân là người đa cảm, lại là đang phải sống cách biệt với những người thân yêu của mình nên hơn bao giờ hết thèm được sống lại những ngày tháng cũ, những kỷ niệm êm đềm: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? hay chăng đó chính là lời của thi nhân, người đã nhập vai vào một người khác để thể hiện lòng mình, nói một lời chào, lời mời gọi thiết tha, nhưng ngay sau đó như không trốn tránh nổi cái hiện hữu nơi hồn mình. Người đã bừng tỉnh, đã nhận ra rằng đó chỉ là sự tưởng tượng, một giấc mơ của chính mình. Bởi vì, thôn Vĩ chỉ còn là hoài niệm, chỉ còn là đi về trong tâm tưởng nhớ thương của một con người đang cần lắm một tình yêu, một tâm hồn để sưởi ấm lòng mình. Cho nên cảnh hiện lên thật đẹp nhưng lại thấm đẫm một nỗi buồn sâu lắng. Và chính cái buồn da diết ấy nên nguồn mạch của những kỷ niệm vẫn không bị phá vỡ, nhưng ở đây không còn là cái tươi trinh của một buổi sớm mai nơi thôn Vĩ mà chợt chuyển sang sông nước, của dòng sông Hương với mây và gió: Gió theo lối gió mây đường mây.

Ở khổ thơ thứ hai này, mỗi câu thơ như rải ra thật chậm, thật nhẹ và cũng thanh thoát như hồn người xứ Huế. Vẫn là hình thức tả cảnh thiên nhiên, nhưng ở đây dù có lấp liếm che giấu khéo đến đâu, thi nhân vẫn để lộ ra cái tính thật của lòng mình, vẫn chưa thoát ra được cái mộng ảo tâm hồn. Gió và mây, đều gợi lên sự chia ly lối gió, đường mây cái ranh giới mỗi lúc được nới rộng thêm ra, càng làm tăng thêm cái khoảng phân cách. Mây và gió mỗi từ được nhắc lại hai lần trong một câu thơ, cách lặp lại ấy như càng bị đẩy ra một khoảng xa hơn. Sự ly tán đó có phải chăng cũng chính là sự ly tán của lòng người. Câu thơ như bị bứt ra, đẩy xa chứ không gãy đôi, càng tạo thêm vẻ da diết đến nao lòng người, như rạch vào nỗi đau của thân phận bị chia lìa. Đến đây không còn là cái tươi mới rạo rực ở khổ thơ đầu nữa mà chuyển sang cái gam màu của sự trầm lắng: Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay. Cảnh đẹp nhưng buồn quá, hay bởi thi nhân đang trải cả hồn mình lên cảnh vật xưa. Xưa nay người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, hơn lúc nào hết, thi nhân bây giờ mới cảm nhận thiên nhiên chậm lại, nhưng các chiều không gian vẫn mở và sâu hun hút càng tăng thêm sự đơn côi. Hai chữ buồn thiu được đặt giữa dòng thơ là một sự lan tỏa của cái buồn lặng lẽ rủ lên dòng nước đang trôi chảy lại vừa như ngấm vào và lan tỏa sang bên sông, rung nhẹ lên một chút đủ để diễn tả một nỗi buồn hiu hắt. Trong cái tâm trạng buồn trĩu nặng của cảnh chia ly ấy, lại đang đắm mình trong ảo mộng của màu trắng, nhà thơ như chợt bừng lên cuống quýt một lời nhắn gửi:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Mộng ảo quá, thiên nhiên như thấm đẫm một màu trắng. Mới ở khổ một còn đang là bức tranh thiên nhiên đẫm ngợp ánh nắng, đến bây giờ là nhuốm ánh trăng. Câu thơ nào cũng đều tỏa ra một sắc màu, đều có nét ánh lên, càng làm cho hồn người đa cảm nhận rõ hơn sự trống trải, đơn lạnh của chính mình nên chợt nhìn thấy thấp thoáng của một con thuyền, lòng thi nhân như chợt rung lên mãnh liệt nhưng vẫn ở trong trạng thái rất đỗi mơ hồ, không xác định.

Thơ Hàn Mặc Tử dường như có sự xâm nhập quá lớn của ánh trăng nên bao giờ cũng tạo ra một vẻ đẹp kỳ ảo của mộng và rất thơ. Giữa cái mênh mang hư ảo, trăng như thấm vào từng kẽ lá, trộn hòa vào từng dòng nước nhỏ. Dòng sông chở đầy ánh trăng, sông trăng chỉ có Hàn Mặc Tử mới tưởng tượng ra được cái sông trăng ấy của dòng sông Hương, ánh trăng huyền ảo tràn đầy vũ trụ tạo nên một không khí hư ảo, và chỉ trong cái mộng ảo đó mới có thể cảm nhận được sông trăng, bến trăng và thuyền mới có thể chở trăng về như một du khách trên sông Hương. Cái hình ảnh thuyền chở trăng ấy, rõ ràng là không mới, và cả sau này Bác Hồ cũng có hình ảnh này:

Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

Tất nhiên là không có thể có sự so sánh bởi hai câu thơ đều mang một hình ảnh ấy song lại hai tâm thế hoàn toàn khác nhau. Người thơ ở đây rất đang đơn côi, đang khao khát được ai đó chia sẻ tâm sự: Có chở trăng về kịp tối nay là cả một nỗi lòng mong đợi, một câu hỏi gần như là sự khắc khoải bồn chồn. Con thuyền ngây ngô trên bến vắng tạo nên trong lòng người một niềm phấp phỏng, hy vọng chờ đợi một cái gì đó rời đi, biết có thể nào, có khi nào quay lại. Cái nỗi niềm ấy đang ngập dâng lên trong lòng thi sĩ. Cả bốn câu thơ của khổ hai là sự ảo hóa của bút pháp tài tình lên cảnh thêm huyền ảo và tình càng dâng lên vời vợi, sâu đắm.

Bài thơ mang một niềm bâng khuâng, một sự tiếc nuối vẫn trong cái mạch hư ảo ấy:

Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở khổ thơ cuối này niềm bâng khuâng, sự quấn riết trước cảnh trời mây, sông nước như trải rộng ra cái cảm giác mông lung của hư thực. Nhưng dù mông lung, dù huyền ảo nhìn không ra vẫn thấy rõ hay đúng hơn là cảm nhận rất rõ một bóng hình người con gái của Huế thơ song lại không thể nào nắm bắt được, lại vẫn là ảo trong mơ, cái hình bóng chập chờn ấy càng làm tăng thêm sự khắc khoải, bồn chồn của lòng người đa cảm, cảm giác gần mà lại như hút xa bởi nhà thơ chỉ có thể cảm nhận được cái màu áo trắng thoắt ẩn thoắt hiện mà không thể nhìn bằng thị giác của mình. Màu sắc trắng chỉ còn là một ấn tượng càng làm cho sự hụt hẫng lên tới độ cao, muốn bấu víu, cầm nắm mà cảnh đầy màu hư ảo quá, nó lại bị chìm trong màu của khói sương:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Bóng hình của giai nhân mờ ảo trong sương, cảnh vật phủ bởi một màu sương, nhưng cũng có thể đó là một ẩn ý của người thợ, sương khói ấy phải chăng là khoảng cách của thời gian, là màu của một mối tình vô vọng. Thi nhân đã cảm mến người con gái Huế, đang sống trong chờ đợi, ảo mộng và trong khi yêu người ta rất dễ nghi ngờ:

Ai biết tình ai có đậm đà

Tự cắt nghĩa trong một câu hỏi bâng khuâng, nhà thơ như càng trào lên một sự băn khoăn vừa da diết xót xa.

Những câu hỏi tu từ trong bài thơ cứ xoáy lên mà không cần một sự trả lời, những hình ảnh mảnh vườn xanh mướt, về bến sông trăng, về con thuyền và cả mối tình sâu kín mà nhà thơ đã như là một sự vô tình làm nhòe đi để tạo ra nét mênh mang. Rồi hàng loạt các từ vườn ai, tình ai, ai biết… cũng là để thể hiện cái mênh mang ấy. Ba khổ trong bài thơ, mỗi khổ thơ là một câu hỏi, một nỗi niềm day dứt của lòng người. Sao anh không về chơi thôn Vĩ. Có chở trăng về kịp tối nay? Và câu cuối cùng là để kết bài thơ: Ai biết tình ai có đậm đà? Âm a như ngân, kéo dài ra, như nỗi niềm đau đớn, buồn tủi đang bị cuộc sống kéo triền miên. Âm hưởng của bài thơ là buồn, nhưng không làm cho người ta bi lụy, yếu lòng, bởi đằng sau nỗi niềm ấy của thi nhân ta thấy vút lên một khát vọng về cuộc sống tình hơn, hoàn thiện hơn. Những chi tiết, những thủ pháp nghệ thuật, cách thức, cấu tứ đã được Hàn Mặc Tử chuyên chở bằng chính tình cảm của mình, của hồn mình, nên đọc bài thơ, ta không thấy có gì gượng ép, mà ngược lại ta như đang cùng sống với nhà thơ trong cái thế giới huyền ảo của người. Bài thơ là sự đan cài giao thoa của tình, của cảnh, bộc lộ được những nét đẹp, cái trong sáng gắn với một vùng quê xứ Huế – là thôn Vĩ với những nét độc đáo của miền Trung.

Cảnh đẹp nhưng đượm một nỗi buồn bâng khuâng da diết Đây thôn Vĩ Dạ như một biện chứng tình cảm của một nghệ sĩ tài hoa đa tình, đa cảm. Con người luôn khao khát vươn tới sự thánh thiện của cuộc đời ấy, đã sống hết mình trong sự đau đớn của tinh thần và thể xác. Cái buồn da diết của thi nhân còn là tâm trạng của một lớp thanh niên lúc bấy giờ yêu cuồng nhiệt thiết tha nhưng không thoát khỏi nỗi buồn thời đại.

Đây thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp nhưng rất khó vẽ. Bởi cái thần kỳ ảo quá, cái tình da diết quá và có lẽ đó chính là cái làm cho bài thơ sống mãi, như sự trường tồn của một tâm hồn Hàn Mặc Tử.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here