Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

Đề bài: Hãy nêu cảm nhận của anh (chị) về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử ( Ngữ văn 11 )

Bài làm

Hàn Mặc Tử (1912-1940) là bút danh của Nguyễn Trọng Trí. Các bút danh khác: Phong Trần, Lệ Thanh. Thuộc nhóm thơ Bình Định. Một cuộc đời hết sức lãng mạn và đầy bi kịch. Một nhà thơ tài năng, cảm hứng sáng tạo thi ca dào dạt với những tập thơ: Gái quê, Thơ điên, Thượng Thanh Khí Cẩm Châu Duyên, và hai kịch thơ: Duyên kì ngộ, Quần tiên hội.

Phong cách nghệ thuật của Hàn Mặc Tử rất khác lạ: bên cạnh những vần thơ điên loạn lại xuất hiện những vần thơ hồn nhiên, trong trẻo lạ thường như Mùa xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ… Trong đó bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ nói về cảnh đẹp Vĩ Dạ với một tình yêu thiên nhiên thiết tha, một hoài niệm bâng khuâng vương vấn và lồng vào đó là tâm tình, nỗi niềm của tác giả.

Sao anh không về chơi thôn Vĩ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Vĩ Dạ một làng cổ đẹp nổi tiếng bên bờ Hương giang, ngoại ô cố đô Huế. Phong cảnh êm đềm thơ mộng. Với Hàn Mặc Tử chắc là có nhiều kỷ niệm đẹp? Câu mở bài như một lời chào mời, như một tiếng nhẹ nhàng trách móc: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Cảnh Vĩ Dạ được nói đến là hàng cau với nắng mới lên, một bình minh rạng ngời. Là màu xanh của cây trái của vườn ai, ngỡ ngàng bâng khuâng, rồi thốt lên mướt quá xanh như ngọc. Sắc xanh mượt mà, láng bóng ngời lên. Một so sánh rất đắt gợi tả sức xuân, sắc xuân của vườn ai? Câu thứ 4 có bóng người xuất hiện thấp thoáng sau hàng trúc: gương mặt chữ điền. Nét vẽ lá trúc che ngang là một nét vẽ thần tình gợi tả vẻ kín đáo, duyên dáng của người con gái thôn Vĩ. Và cho biết vườn ai, ấy là vườn xuân thiếu nữ. Cau, nắng, màu xanh như ngọc của vườn ai, lá trúc và gương mặt chữ điền – 5 nét vẽ, nét nào cũng tinh tế, tao nhã, gợi nhiều thương mến bâng khuâng.

Với Hàn Mạc Tử từ lâu trăng đã là người bạn tri âm tri kỉ, trăng xuất hiện trong rất nhiều bài thơ của ông, từ Trăng nằm sõng soài trên cành liễu – Đợi gió đông về để lả lơi cho đến Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm – Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe thì không có lý do gì khi viết về Huế, về Vĩ Dạ thơ mộng và kỷ niệm lại thiếu hình bóng người bạn tri kỉ là trăng được. Vì thế ở khổ thơ thứ hai, Hàn Mạc Tử để trăng xuất hiện:

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Một miền quê thoáng đãng, thơ mộng. Có gió, mây, có hoa, có dòng nước. Cảnh đẹp đầy thi vị, cổ điển. Gió mây đôi ngả phân li. Dòng nước buồn thiu, buồn xa vắng mơ hồ. Hoa bắp nhè nhẹ lay cũng gợi buồn.

Gió theo lối gió, mây đường mây,

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Khổ một nói đến nắng mới lên, nắng bình minh. Khổ hai, nói đến bến sông trăng, bến đò trong hoài niệm. Vầng trăng của thương nhớ đợi chờ. Thuyền ai có lẽ là con thuyền thiếu nữ? Vần thơ trăng đẹp nhất trong thơ Hàn Mặc Tử. Có bến sông trăng, có con thuyền trăng. Thật thơ mộng, tình tứ:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Câu thơ của Hàn Mặc Tử về bến sông trăng và thuyền ai gợi nhớ đến vần ca dao:

Thuyền về có nhớ bến chăng?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

Và vì thế nó gợi lên một mối tình thương nhớ, đợi chờ man mác, mơ hồ, bâng khuâng.

Mơ khách đường xa, khách đường xa.

Áo em trắng quá nhìn không ra,

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Một chữ mơ đầy tình tứ trong câu thơ có nhạc điệu chơi vơi: Mơ khách đường xa, khách đường xa. Du khách hay thôn nữ Vĩ Dạ? Chắc lại là giai nhân mà thi nhân từng mơ ước: Áo em trắng quá nhìn không ra. Vừa thực vừa mộng. Con người của thực tại hay con người trong hoài niệm? Sương khói của bến sông trăng hay miệt vườn Vĩ Dạ đã làm mờ nhân ảnh của giai nhân? Trong cảnh có tình. Trong tình có màn sương khói, một thứ tình yêu kín đáo, e dè, thiết tha:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Toàn bài thơ có 4 từ ai đại từ phiếm chỉ cũng xuất hiện trong các câu hỏi tu từ, không chỉ góp phần tạo nên âm điệu lâng lâng, ngỡ ngàng mà còn dẫn hồn người đọc nhớ về một miền dân ca Huế man mác sâu lắng, bồi hồi, thiết tha:

Núi Truối ai đắp mà cao,

Sông Hương ai bới, ai đào mà sâu?

Nong tằm ao cá nương dâu

Đò xưa bến cũ nhớ câu hẹn hò…

Đây thôn Vĩ Dạ ngỡ là một bài thơ tả cảnh, nhưng đích thực là một bài thơ tình – tình trong mộng tưởng. Cảnh rất đẹp, rất hữu tình, âm điệu thiết tha, tình tứ. Tình cũng rất đẹp nhưng chỉ là mộng ảo. Bến sông trăng còn đó, nhưng con thuyền tình có kịp chở trăng về tối nay? Xa vời, mênh mông. Áo trắng giai nhân, màu trắng trong trinh nữ ấy đã trở thành hoài niệm trong miền thương nhớ của thi sĩ đa tình mà nhiều bất hạnh. Đây thôn Vĩ Dạ là bài thơ để ta nhớ và ta thương.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here