Tự tình của Hồ Xuân Hương

Đề bài: Phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non

Chén rượu huơng đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con! ( Ngữ Văn 11 )

Bài làm

Trong lịch sử văn học nước nhà, bên cạnh các thi hào nức danh như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… phải kể đến Hồ Xuân Hương, một bậc nữ sĩ tài hoa từng được nhà thơ Xuân Diệu tôn vinh là Bà chúa thơ Nôm. Một số bài thơ của bà đậm chất trữ tình đằm thắm xen lẫn ít nhiều cảm xúc thiết tha buồn tủi… thể hiện một cách sâu sắc thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa với biết bao nỗi niềm khát khao được sống hạnh phúc trong tình yêu đôi lứa. Chùm thơ Tự tình gồm ba bài là phản ánh đặc sắc tâm tư tình cảm của nhà thơ, một người phụ nữ duyên phận hẩm hiu, quá lứa lỡ thì. Hay nhất trong chùm thơ này là bài thứ hai:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non

Chén rượu huơng đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con!

Nhà thơ Xuân Diệu trong bài Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm, cho rằng: Bộ ba bài thơ trữ tình này cùng với bài Khóc vua Quang Trung của Công chúa Ngọc Hân làm thành một khóm riêng biệt, làm tiếng lòng chân thật của người đàn bà tự nói về tình cảm của bản thân của đời mình trong văn học cổ điển Việt Nam nó khác với Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm hay thơ của Bà Huyện Thanh Quan.

Đây là một cảnh trong đêm khuya, người đàn bà một mình không ngủ, não nuột cái thân lẻ chiếc, thiếu thốn yêu đương, xuân đi rồi xuân có thể trở về mà tình yêu thì mình chỉ được sẻ có một tí.

Tự tình của Hồ Xuân Hương

Hai câu mở đầu bài thơ là một cảnh ngộ, một tâm trạng tê tái:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non

Đúng là khai môn kiến sơn (mở cửa ra thấy núi) câu đầu gợi cảm giác lặng buồn dù có khua lên hồi trống canh văng vẳng. Âm thanh văng vẳng của tiếng trống từ một chòi canh xa đưa lại không những như thúc giục thời gian trôi qua nhanh mà còn báo hiệu sự vắng lặng, buồn bã. Tiếng trống đồn canh vốn gợi buồn. Ngay trong bài Chiều hôm vắng nhà của Bà Huyện Thanh Quan: Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn tuy chỉ vẳng lại lúc chiều hôm chứ chưa phải là lúc đêm khuya vậy mà lòng người đọc còn thấm thía nỗi buồn.

Chính trong bối cảnh ấy đã hiện ra con người của nhà thơ cô độc trơ trọi:

Trơ cái hồng nhan với nước non

Hồng nhan là sắc mặt hồng, cách hoán dụ chỉ người phụ nữ đẹp. Chữ Cái nhằm cụ thể hóa đối tượng diễn tả. Trơ là lì ra, trơ ra như mất cả cảm giác. Nước non chỉ cả thế giới tự nhiên và xã hội. Các yếu tố ấy cũng thể hiện một tâm trạng cô đơn, quạnh quẽ rất mực của con người trong một không gian rộng lớn. Vì lắm nỗi đau buồn nét mặt con người như trơ ra trước cảnh vật được mọi người tưởng như hóa đá không còn cảm giác gì nữa. Người đọc tưởng như nghe được từ hai câu thơ ấy cả những tiếng thở dài ngao ngán tủi hổ về duyên phận hẩm hiu của người phụ nữ đa tài, đa tình ấy. Tiếp theo là hai câu thực:

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

Giữa đêm khuya nhà thơ cảm thấy trống vắng, cô đơn. Để quên đi nỗi buồn trơ trọi này bà đã nhờ đến rượu mượn chút hương nồng. Nhưng càng uống, bà càng tỉnh. Ngước lên ngắm trăng thì trăng đã xế bóng mà chưa lúc nào tròn. Bà càng cám cảnh cho phận mình. Nghệ thuật đối trong hai câu này rất tài tình, đăng đối, hô ứng nhau, cùng nhau làm nổi bật lên thân phận của một khách hồng nhan bạc mệnh, có nhan sắc mà phải chịu cảnh dang dở, cô đơn.

Tủi buồn cho duyên phận của mình, người phụ nữ đã trải qua biết bao đêm dài thao thức mong đợi ước mơ những ngày tháng cứ chồng chất thêm hi vọng, đợi chờ, khao khát. Nhưng hạnh phúc vẫn mù tăm. Biết đến khi nào vầng trăng mới tròn như biết bao tháng ngày đã mơ ước. Càng cô đơn, càng mong đợi mà càng mong đợi thì đau buồn càng lắng đọng thêm. Đó chính là bi kịch của người phụ nữ có duyên phận hẩm hiu.

Hai câu luận liền với mạch thơ là hai câu lấy cảnh ngụ tình:

Xiên ngang mặt đất rêu từng đám.

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.

Hai câu thơ, hai hình ảnh mãnh liệt nêu bật một sự phản kháng dữ dội: rêu từng đám tuy nhỏ bé, mềm yếu mà cũng dám xiên ngang mặt đất, đá mấy hòn thôi mà cũng đâm toạc chân mây.

Hơn ai hết, nhà thơ vẫn là người tự tin và yêu đời rất mực. Nhìn rêu, đá, bà cũng thấy chúng hoạt động mạnh mẽ, một sức sống đặc biệt nhưng cũng nhỏ bé và xa xôi quá. Hai câu thơ thể hiện nét bản sắc, phong cách của Hồ Xuân Hương, bà luôn luôn cảm nhận sự vật dưới một cái nhìn mạnh mẽ, hàm chứa một sức sống mãnh liệt, dạt dào. Do đó mà cả rêu nhỏ bé, cả đá vô tri cũng tung hoành xiên ngang, đâm toạc. Dù phải trải qua nhiều bi kịch nhưng bà vẫn cố gắng gượng với đời. Phản ứng của bà tuy mạnh mẽ, dữ dội nhưng thực tại vẫn đắng cay, chua chát. Phải sống trong một xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, xem phụ nữ là hạ đẳng, chẳng chút gì trân trọng yêu thương thì bà phải lâm vào cảnh ngộ lạnh lùng chua xót là điều tất yếu. Thấm thía nỗi buồn đau riêng ấy của mình, nhà thơ muốn cất lên tiếng nói nhằm đấu tranh cho nữ giới, mọi chị em đều được sống, được yêu thương, được một cuộc đời hạnh phúc. Nhưng việc ấy đâu phải dễ dàng chi, bởi ngay chính bà, vẫn phải đang gánh chịu một duyên phận hẩm hiu. Trong đêm, nhiều lúc tàn canh nghe tiếng gà văng vẳng gáy bà đã giật mình, than thân, trách phận, tủi buồn:

Mõ thảm không khua mà cũng cốc

Chuông sâu không đánh cớ sao om

(Tự tình 1)

Bởi vậy càng nghe trống canh dồn, càng ngắm trăng khuyết xế bóng, càng nhìn rêu, nhìn đá đâm toạc, xiên ngang nhà thơ càng bị dồn đến cái kết cuộc chán nản và đau xót. Bà viết:

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Chữ xuân ở đây ngoài ý chỉ mùa xuân còn hàm ý chỉ tuổi trẻ, tuổi xuân. Theo nhịp tuần hoàn của trời đất, mùa xuân đi qua rồi sau đó còn trở lại: xuân đi xuân lại lại nhưng tuổi xuân của con người thì chỉ một đi… để rồi Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha (Truyện Kiều). Do vậy mà thấy mùa xuân tươi đẹp trở về đáng lẽ con người phải hớn hở, vui mừng thì lại chỉ thấy thêm ê chề, ngao ngán. Bởi lẽ mỗi lần xuân về là một lần tuổi đời thêm chồng chất, tuổi xuân trôi dần đi hết mà bản thân mình thì vẫn cái thân lẻ chiếc, thiếu thốn yêu thương, giả sử có tình yêu thì mình cũng được sẻ có một tí: Mảnh tình san sẻ tí con con!

Trong câu cuối cùng của bài thơ này, từng chữ đều thoáng ý ngậm ngùi, ấm ức: tình thì chỉ có một mảnh vì phải xẻ chia đâu được tròn đầy, nguyên vẹn khác chi ánh trăng khuyết xế trong một câu thơ trước. San sẻ chứ không phải trọn hưởng mà lại chua xót thay đều chỉ được san sẻ có chút xíu thôi: tí con con. Đã con con là rất nhỏ rồi mà còn có nghĩa là cực nhỏ. Mấy từ tí con con cực tả nỗi niềm chua chát, ngán ngẩm của nhà thơ.

Tóm lại, Tự tình là lời tự than thân, nói ra tự đáy lòng của một phụ nữ lỡ muộn muốn mượn rượu nhờ trăng một mình trong đêm khuya để giải sầu nhưng lại càng thêm cám cảnh cho thân phận cô đơn, trơ trọi của mình. Càng thao thức, trở trăn càng buồn tủi. Càng buồn tủi, càng khao khát được sống hạnh phúc trọn vẹn, đủ đầy. Thế nhưng thực tại nặng nề chua chát cứ vây bủa lấy khiến cái hồng nhan phải trơ ra như hóa đá trước cảnh vật, trước mọi người. Nổi bật lên trong bài thơ là một sức sống mãnh liệt và một tấm lòng yêu cuộc sống không sao thiết tha hơn được.

Người đọc dễ đồng cảm với lòng khát khao được trân trọng, yêu thương, khao khát được hạnh phúc tình yêu của nhà thơ nói riêng và của người phụ nữ xưa nay nói chung.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here