Chí Phèo - Nam Cao

Đề bài: Phân tích truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao ( Ngữ văn 11)

Bài làm

Là một nhà văn luôn băn khoăn trăn trở về cách sống và cách viết, Nam Cao đã từng tuyên ngôn Sống đã rồi hãy viết. Một nhà văn muốn viết được nhân đạo trước hết phải sống cho nhân đạo bởi cuộc đời quyết định đến văn chương. Nam Cao luôn nhìn đời bằng đôi mắt của tình thương, đôi mắt của lòng nhân ái. Với cách nhìn đời này, Nam Cao bắt đầu cầm bút sáng tác. Trước Cách mạng, Nam Cao viết về hai đề tài, đề tài người nông dân và đề tài người trí thức tiểu tư sản. Ở đề tài nông dân hay nhất, tiêu biểu nhất phải kể đến sáng tác đầu tay của Nam Cao, tác phẩm Chí Phèo. Linh hồn của câu chuyện là nhân vật cùng tên được nhà văn miêu tả với một tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người: Sinh ra là người nhưng không được làm người, cả đời khao khát lương thiện, cuối cùng trở thành kẻ bất lương. Thông qua bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nông dân Chí, ngòi bút Nam Cao bộc lộ là một ngòi bút nhân đạo, nhân văn, sâu sắc và cao cả.

Người ta thường nói bi kịch là một hoàn cảnh bi thảm, bi thương, bi đát nào đó, điều này không chính xác. Bi kịch vốn được hiểu là những khát vọng chân chính, cháy bỏng, mãnh liệt của một con người nhưng không có điều kiện thực hiện trên thực tế, cuối cùng người mang khát vọng bị rơi vào kết cục của một thảm kịch. Bi kịch là cuộc đấu tranh dai dẳng, không khoan nhượng giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cao thượng và thấp hèn, giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Trong cuộc sống thường ngày, thường nhật, bi kịch không diễn ra giữa các lực lượng xã hội đấu tranh với nhau, trái lại nó là lực lượng tinh thần trong đời sống tâm hồn của một con người, ví như nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao, cả đời hắn khao khát lương thiện, cuối cùng trở thành kẻ bất lương, sinh ra là người nhưng không được làm người, để rồi hắn chết trên con đường trở về lương thiện.

Cuộc đời con người là một chuỗi vận động liên hoàn mà chúng ta không thể phân tách hay chia cắt được. Tuy nhiên cuộc đời mỗi con người được hình thành bởi những điều kiện, hoàn cảnh. Ở những điều kiện lớn, hoàn cảnh lớn, bản chất con người mới được bộc lộ bởi nói như H.Balzac: Bản chất của con người thường bị bánh xe của số phận che đậy, và khi lao vào bão tố, dù tốt hay xấu, tự nó bộc lộ. Cuộc đời Chí Phèo từ lúc sinh ra đến lúc chết đi được chia làm hai chặng đường; chặng đường đầu tiên từ lúc Chí sinh ra đến năm hai mươi tuổi và sau khi ra tù.

Chí Phèo – Nam Cao

Lai lịch Chí Phèo được mở ra trong câu chuyện là một đứa trẻ xám ngắt, được bọc trong một tấm váy đụp bên cạnh lò gạch bỏ hoang, được người thả ống lươn đem về trong một buổi sớm tinh sương. Lớn lên, Chí Phèo được cưu mang bởi những con người nghèo khổ, Chí Phèo đi ở hết nhà này cho đến nhà khác, từ bà góa mù cho đến ông Phó Cối. Quá khứ ấy không khiến Chí Phèo trở thành một đứa trẻ hư hỏng, trái lại, đến năm hai mươi tuổi, khi đi làm tá điền cho nhà Bá Kiến, Chí Phèo vẫn giữ nguyên bản tính của một người nông dân thuần hậu. Cũng như biết bao người nông dân làng Vũ Đại, Chí Phèo ước mơ có được một cuộc sống bình dị bởi mơ ước của một con người phần nào bộc lộ bản tính của người ấy. Ở đây, Chí Phèo ước mơ có một cuộc sống nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ con lợn để nuôi, khá giả mua năm ba sào ruộng cấy. Mơ ước ấy chứng tỏ rằng hắn là một người nông dân thuần hậu, thậm chí làng Vũ Đại còn gọi hắn là người lành như cục đất. Ta còn thấy Chí Phèo là một người trong sáng và trọng danh dự. Làm tá điền cho nhà Bá Kiến, rồi một lần bị bà ba Bá Kiến gọi lên bóp chân, Chí Phèo chỉ thấy nhục, thấy sợ. Trái tim của Chí Phèo hai mươi tuổi đâu còn là gỗ đá, Chí Phèo đã nhận thức được đâu là tình yêu chân chính, đâu là thói dâm ô. Bị gọi đấm bóp cho bà ba quỷ quái hắn chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì. Như vậy, rõ ràng, đến đây ta có thể khẳng định hắn là một người nông dân thuần hậu, là người trong sáng và trọng danh dự nhưng xã hội ấy không cho Chí Phèo sống yên ổn với bản tính nông dân thuần hậu của hắn. Chí Phèo đang sống trong cái xã hội mà Kiếp người cơm vãi cơm rơi – Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi, trong cái xã hội mà cạm bẫy người giăng giăng như mắc cửi thì những người hiền lành như Chí Phèo bao giờ cũng phải chịu thiệt thòi. Vì một cơn ghen bóng gió, Chí Phèo đã bị Bá Kiến tống vào ngục tù, con người xảo quyệt này sẵn sàng chà đạp lên cuộc đời người khác không thương tiếc, không ghê tay. Bắt đầu từ đây, Chí Phèo chuyển sang một trạng thái khác, một cuộc sống khác. Nhân đây cũng phải nói qua cái nhà tù, đây là nhà tù thực dân, đồng lõa với lão Bá tha hóa Chí Phèo. Nhà tù này có bản chất xã hội trái hoàn toàn với bản chất xã hội của một nhà tù mà loài người đang mong đợi. Nhà tù này chỉ thu nạp tù nhân khi hắn ta còn lành như cục đất, vào nhào nặn, đào tạo đến khi thành con quỷ dữ thì thả họ ra. Nhà tù này tiếp tay cho lão Bá tha hóa Chí Phèo, nhà tù này đã biến hắn Chí lành như cục đất giờ đây ra tù… hãy nghe Nam Cao mô tả diện mạo của Chí Phèo lúc ra tù: Cái đầu cạo trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm, ngực và tay chạm trổ đầy những hình rồng phượng, có cả một ông tướng cầm chuỳ. Trông Chí Phèo đặc như một tên săng đá. Hình ảnh này đã làm tái hiện một Chí Phèo khác hoàn toàn, thay thế anh nông dân thuần hậu ngày xưa giờ đây là một Chí Phèo sinh ra làm người nhưng không được làm người, hiền lành chân chất là thế giờ đây trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.

Đây là bi kịch đầu tiên của Chí Phèo, bởi bi kịch là khát vọng chân chính, mãnh liệt của một con người nhưng không có điều kiện thực hiện trên thực tế. Chí Phèo cả đời khao khát lương thiện nhưng giờ đây thành kẻ bất lương mất rồi, thành con quỷ dữ mất rồi. Hình ảnh của Chí say rượu vừa đi vừa chửi hết sức buồn cười, phải chăng đằng sau sự lảm nhảm của hắn là tiếng kêu gào tuyệt vọng của sự thèm khát được giao tiếp với đồng loại. Trong cơn say hắn nhận ra được sự cô đơn khủng khiếp của một con người bị xã hội ruồng bỏ. Hắn thèm được người ta chửi, chửi hắn có nghĩa là còn công nhận hắn là người. Thế nhưng hắn cứ chửi, xung quanh hắn là sự im lặng đáng sợ, hắn chửi rồi lại nghe: chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượu. Hắn đã bị từ chối quyền làm người tuyệt đối. Bản chất của hắn đâu phải là kẻ nát rượu. Khi còn trẻ hắn đã ao ước có một mái ấm gia đình nho nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn vợ dệt vải nuôi lợn. Mơ ước của hắn thật bình dị bằng sức lao động chân chính, cái hạnh phúc đơn sơ nhưng ấm cúng tình người tưởng chừng ai cũng có được nhưng với Chí lại quá xa vời. Giờ đây, hắn muốn sống trong cái làng Vũ Đại đầy bọn ăn thịt người không tanh hắn phải gây gổ, cướp giật, ăn vạ, muốn thế hẳn phải có gan, phải mạnh, thế là hắn mượn rượu để say như hũ chìm, như thế hắn sẽ làm bất cứ điều gì người ta muốn hắn làm, xã hội đã vằm nát bộ mặt người của hắn để hắn không còn được coi là con người nữa ai cũng tránh mỗi lần hắn đi qua.

Trong cơn say rượu, Chí đã gặp Thị Nở và họ đã ăn nằm với nhau… Sau khi tỉnh cơn say, hắn nhận được tình yêu, sự chăm sóc của Thị Nở làm cho trong sâu xa tâm hồn hắn lay động một tia chớp lóe sáng trong cuộc đời tối tăm dài dằng dặc của hắn và hắn nhận ra được tình trạng bi thương của số phận mình. Hắn mơ hồ thấy rằng sẽ có một lúc mà người ta không thể liều lĩnh được nữa, bấy giờ mới nguy, hắn tủi thân vì hắn nhận ra sự trơ trọi của chính mình. Đó những ân hận khi Chí Phèo hiểu ra hắn đã làm quá nhiều điều tội lỗi, khốn nỗi khi gây ra những điều này Chí triền miên trong những cơn say nên nào biết gì? Tình yêu của Thị Nở làm cho hắn bỗng thèm lương thiện, bát cháo hành đã đưa Chí rẽ vào bước ngoặt mới, bát cháo hành là biểu tượng của sự cảm thông yêu thương giữa những con người cùng cảnh ngộ, nó mãi mãi đi vào cuộc sống văn chương với tư cách là biểu tượng của chủ nghĩa nhân đạo. Hắn cảm động quá! Cảm động vì lần đầu tiên hắn được ăn một thứ ngon như thế. Hơn nữa muốn có cơm ăn, rượu uống Chí phải dọa, cướp giật, lần đầu tiên có người tự nguyện cho hắn ăn, đặc biệt hơn đó lại là đàn bà nên con quỷ dữ đã mềm ra thành từng giọt nước mắt. Cùng với những giọt nước mắt là Chí nghe được tiếng chim hót buổi sáng, tiếng gõ mái chèo của người thuyền chài đuổi cá trên sông, tiếng trò chuyện của những người đi chợ sớm. Cái đẹp của tự nhiên, cái đẹp của cuộc đời chứa chan tình người, tất cả thật đơn sơ nhưng cũng thật gần gũi thân thiết, những âm thanh này ngày nào cũng có nhưng đây là lần đầu tiên Chí cảm nhận được. Giọt nước mắt của Chí cùng những âm thanh buổi sáng đã làm nên một Chí Phèo khác hẳn, có nghĩa là anh canh điền lương thiện năm nào đã sống lại. Đây là lần đầu tiên Chí tỉnh và lần đầu tiên nhận thức được tội lỗi, sự ân hận muộn màng nhưng dù sao cũng đáng ghi nhận. Đó là biểu hiện của sự làm lành hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao. Chí mong muốn được mọi người bỏ qua cho tất cả. Thị Nở sẽ giúp hắn làm lại từ đầu, niềm khát khao mới người làm sao!.

Tình yêu của Thị Nở làm cho hắn thức tỉnh và mở đường cho hắn trở lại làm người, nhưng thật trớ trêu, bà cô Thị Nở đã đóng sầm cánh cửa lại, bà không cho cháu bà đi lấy một thằng ăn vạ. Cách nhìn của bà cũng chính là cách nhìn của làng Vũ Đại, linh hồn của Chí vừa trở về thì bị cự tuyệt, không ai nhận ra. Khát vọng của Chí đã bị xã hội từ chối, điều này cũng dễ hiểu vì xã hội quen nhìn Chí trong bộ dạng quỷ dữ, không thể chấp nhận một Chí Phèo hiện lên với tư thế con người.

Sự từ chối của xã hội đầy định kiến, xã hội không độ lượng bao dung đón đứa con lạc loài trở về vòng tay cộng đồng, hoàn cảnh đặt Chí trước hai con đường để lựa chọn: hoặc sống làm quỷ dữ hoặc chết để khẳng định giá trị làm người. Thực chất Chí chỉ có một con đường để đi, khi giá trị làm người thức tỉnh thì Chí không thể làm quỷ dữ, đó chính là bi kịch thân phận con người không được quyền làm người.

Sự từ chối của Thị Nở đã đóng sập cánh cửa hoàn lương của Chí. Lúc này hắn đã uống rất nhiều rượu càng uống càng tỉnh ra để thấm thía thân phận mình hắn ôm mặt khóc rưng rức. Trong cơn say hắn xách dao ra đi, hắn lảm nhảm đến nhà Thị Nở để đâm chém nhưng bước chân lại đi tìm kẻ gây ra tình trạng tuyệt vọng cho đời mình. Thực trạng này đòi hỏi chúng ta phải xác định Chí say hay tỉnh? Nếu bảo hắn tỉnh thì không thuyết phục vì ý thức của hắn không còn khả năng điều khiển hành vi, bảo hắn say cũng không thỏa đáng vì người say không thể biết đòi lương thiện tao muốn làm người lương thiện và biết rất rõ không ai cho hắn lương thiện, nghịch lý này là rượu đã làm cho thế giới tinh thần hắn mụ mị đi, nhưng một bộ phận mà rượu không thể làm tê liệt được là ý thức làm người, cho nên hắn đòi lương thiện là vô cùng tỉnh táo vì vậy Chí đã giết Bá Kiến và tự hủy diệt mình.

Cái kết thúc thật rùng rợn vì máu chảy nhưng cũng thật nhân bản vì tội ác đã được trừng trị và giá trị làm người được khẳng định. Một Chí Phèo tỉnh đã giết chết một Chí Phèo say. Chí Phèo bằng xương, bằng thịt đã chết nhưng còn lại trong lòng người đọc là Chí Phèo đòi quyền sống, đang dõng dạc đòi làm người lương thiện. Như vậy, khi ý thức nhân phẩm đã trở về, Chí Phèo không bằng lòng sống như trước nữa. Và Chí Phèo chết trong bi kịch đau đớn, chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống. Đây không thể là hành động lưu manh mà là sự vùng lên tuyệt vọng của người nông dân khi thức tỉnh cuộc sống.

Chí Phèo – một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội cũ, một con người điển hình. Ở cuối tác phẩm, đột nhiên thị thoáng thấy hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại…, chi tiết ấy muốn nói với chúng ta rằng một ngày gần đây thôi, Thị Nở lại bụng mang dạ chửa vượt cạn giữa đồng không mông quạnh, giữa con mắt thờ ơ của người dân làng Vũ Đại, lại một Chí Phèo con xuất hiện. Điều này chứng tỏ rằng Chí Phèo không phải là bi kịch của một con người mà là bi kịch của người nông dân tồn tại trong lòng nông thôn trước Cách mạng tháng Tám. Mang đậm giá trị tố cáo rất cao, lên án giai cấp phong kiến thống trị tha hóa những bị kịch như vậy sẽ còn tiếp diễn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here