Tố Hữu - Việt Bắc

Đề bài :Thủ đô gió ngàn trong thơ Tố Hữu. ( Ngữ văn 9 )

Bài làm

Chiến khu Việt Bắc – Thủ đô gió ngàn, nơi nuôi chí bền gan chiến đấu cho của cả dân tộc, ở đó có Trung ương Đảng, Chính phủ và “Cụ Hồ sáng soi” là nơi cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của cả nước. Trong bài thơ Việt Bắc thi sĩ Tố Hữu đã nói giùm chúng ta điều đó:

Ở đâu u ám quân thù

Nhìn lên Việt Bắc, Cụ Hồ sáng soi

Ở đâu đau đớn giống nòi

Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

Một sáng tháng năm, nhà thơ Tố Hữu từ xóm Chòi, xã Mĩ Yên huyện Đại Từ ngược lên đèo De núi Hồng, thăm Bác Hồ tại An toàn khu Định Hóa, nhớ lại những phút giây mừng rỡ khi được gặp Bác và “bàn tay con nắm tay cha”, tác giả đã bồi hồi xúc động ghi lại trong bài thơ Sáng tháng năm:

Vui sao một sáng tháng năm

Đường về Việt Bắc lên thăm Bác Hồ.

Nhà sàn nơi Bác làm việc thật bình dị nhưng rất đỗi nên thơ; hình ảnh ấy giống như một bức tranh thuỷ mặc nhưng sinh động hơn bởi:

Bác ngồi Bác viết nhà sàn đơn sơ

Con bồ câu trắng ngây thơ

Nó đi tìm thóc quanh bồ công văn.

Quanh nơi Bác ở còn có dòng suối Khuôn Tát róc rách chảy ngày đêm, có thung lũng Nà Nòn xanh mướt nương ngô dưới chân núi Hồng lồng lộng gió, đã in dấu trong những câu thơ đầy gợi tả:

Suối dài xanh mướt nương ngô

Bốn phương lồng lộng Thủ đô gió ngàn.

Tố Hữu – Việt Bắc

Những ngày ở An toàn khu Định Hóa, tác giả có dịp gắn bó với cảnh vật, nơi có những mái nhà sàn thấp thoáng giữa đôi cọ xanh xòe quạt lá, hay ẩn sau những vườn mận mơ hoa nở trắng cả một vùng, để rồi mỗi độ xuân về:

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi dang.

Không gì đẹp và êm ả bằng ánh trăng thu sáng soi vằng vặc; Bác Hồ trong những ngày sống và làm việc ở đây đã làm nhiều bài thơ về cảnh trăng chiến khu.

Năm 1947 Bác đã làm bài thơ Cảnh khuya bất hủ:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Năm 1949 trong bài thơ Đi thuyền trên sông Đáy, Bác cũng bắt đầu bằng hai câu:

Dòng sông lặng ngắt như tờ

Sao đưa thuyền chạy thuyền chờ trăng lên.

Năm 1951, Bác làm bài thơ gửi các cháu nhi đồng yêu quí nhân Tết Trung thu với hai câu mở đầu:

Trung thu trăng sáng như gương

Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng…

Trăng chiến khu trong thơ Tố Hữu không nhiều hàm ý và súc tích như trong thơ của Bác Hồ, nhưng ông cũng có những câu thơ cảm thụ về trăng thu làm ta không thể nào quên và thơ ông thường gắn cảnh với người, làm cho hình ảnh sinh động và cả nỗi nhớ cũng thêm da diết…

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương.

Trong thơ Tố Hữu, cảnh rừng tuy là nơi “mật khu” nhưng không âm u. Rừng không lạnh ngắt xanh màu lá, mà vẫn đẹp tươi với hoa chuối đỏ màu cờ. Cảnh đèo De cũng trở nên sinh động bởi thấp thoáng một bóng người và bởi có ánh nắng mặt trời như níu kéo…

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng

Còn gì đẹp và rộn ràng nên thơ hơn khi:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình.

Bên cạnh “cảnh và người Việt Bắc” thơ Tố Hữu cũng đã ghi lại một sự kiện lớn, đó là hội nghị Trung ương – Chính phủ họp tại Tỉn Keo – Phú Đình để bàn việc thực hiện quyết định của Bộ Chính trị về việc mở chiến cuộc đông xuân năm 1953 – 1954, bao vây đánh thắng giặc trên cứ điểm Điện Biên Phủ cùng với bao công việc hệ trọng khác:

Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang

Nắng trưa rực rỡ sao vàng

Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công

Điều quân chiến dịch thu đông

Nông thôn phát động, giao thông mở đường

Giữ đê, phòng hạn, thu lương

Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu.

Trong thơ Tố Hữu, không chỉ miêu tả hình ảnh Bác Hồ ung dung ngồi ngẫm ngợi việc nước mà còn cả hình ảnh Người bước đi thoăn thoắt trên đèo hay “ung dung yên ngựa” trên đường công tác:

Nhớ ông cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải, đẹp tươi lạ thường!

Nhớ Người những sáng tinh sương

Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Nhớ chân Người bước lên đèo

Người đi, rừng núi trông theo bóng người.

Từ năm 1953 những ngọn đồi, suối nước ở xã Đồng Thịnh huyện Định Hóa trở thành nơi các binh đoàn chủ lực diễn tập thực binh đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Từ đây các đoàn quân vượt qua đèo De, núi Hồng, qua Tuyên Quang lên miền Tây Bắc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Hình ảnh những ngày luyện quân rồi lên đường đi chiến dịch, được diễn tả lại với những hình tượng thật hào hùng:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như là đất rung

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.

Và đây những đoàn dân công hỏa tuyến:

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Chiến thắng Điện Biên Phủ “vang dội địa cầu” dẫn đến kháng chiến hoàn toàn thắng lợi và hòa bình được lập lại trên miền Bắc; Việt Bắc lúc này hiện lên trong thơ Tố Hữu bằng những câu thơ đầy hào sảng:

Ta đi giữa ban ngày

Trên đường cái ung dung ta bước

Đường ta rộng thênh thang tám thước

Đường Bắc Sơn, Đình Cả, Thái Nguyên

Đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên

Đường cách mạng, dài theo kháng chiến.

Với niềm tự hào vui sướng nhà thơ đã thốt lên:

Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi!

Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt.

Hòa bình lập lại, đầu tháng 10-1954 từ xã Văn Lãng huyện Đại Từ – Thái Nguyên, Bác Hồ trở về Thủ đô Hà Nội, để lại cho nhân dân các dân tộc Việt Bắc nỗi nhớ Người khôn xiết:

Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người.

Qua bài thơ Việt Bắc, Tố Hữu đã giãi bày tình cảm của mình cũng như của bao cán bộ, bộ đội đối với đồng bào nơi chiến khu xưa:

Nước trôi, lòng suối chẳng trôi

Mây đi mây vẫn nhớ hồi về non

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

Chàm nâu thêm đậm, phấn son chẳng nhòa.

Những vần thơ của nhà thơ Tố Hữu một lần nữa càng làm cho ta xúc động và hiểu sâu sắc hơn về Bác Hồ và Chiến khu Việt Bắc.

Trịnh Trúc Lâm

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here